Không chỉ là tranh chấp song phương 80 đại biểu là các nhà nghiên cứu , học giả , đại diện các cơ quan nghiên cứu trong nước có liên quan tới Biển Đông đã cùng nhau san sớt những nghiên cứu , những phân tích về một số động thái mới tại Biển Đông trong thời kì qua , từ đó đưa ra đánh giá và kiến nghị trong việc bảo vệ lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông. Trong bài tham luận của mình , hai học giả Nguyễn Đăng Thắng ( nghiên cứu sinh tấn sĩ luật học tại Anh ) và Nguyễn Thị Thanh Hà ( chuyên viên hiện đang công tác tại liên hợp quốc ) ý là đang tồn tại hai loại tranh chấp. Đó là tranh chấp về chủ quyền đảo và tranh chấp về phân định ranh giới các vùng biển ( bao gồm cả thềm lục địa ). Vấn đề Biển Đông từ chỗ chỉ là tranh chấp giữa các nước trong chuye , nay đã trở nên một trong những vấn đề quốc tế , được đem ra luận bàn ở những diễn đàn đa phương như ARF. Thiếu tướng , Phó giáo sư , tấn sĩ Lê Văn Cương , nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược và khoa học Công an , Bộ Công an ý là , trong 10 năm tới , Biển Đông tiếp kiến là nơi va chạm về lợi ích an ninh và kinh tế của một số cường quốc trong chuye châu Á – thanh bình Dương. Chính vì vậy , tranh chấp trên Biển Đông không chỉ là tranh chấp song phương , đa phương , mà đã mang tính quốc tế , là nơi đụng độ lợi ích của cả các cường quốc đầu tiên thế giới.Theo một số học giả , bây giờ vấn đề Biển Đông đã trở nên vấn đề khá ngh ii trong tiêu chuẩn nghị sự của ASEAN , thể hiện rõ quyết tâm chuyển từ Tuyên bố về Cách xử sự của các bên trên Biển Đông ( DOC ) sang Bộ quy tắc tam suất xử sự trên Biển Đông ( COC ). Một số tham luận cũng chỉ rõ , lập trường của Trung Quốc cũng đã có nhiều thay đổi. Bây giờ , dường như Trung Quốc có xu hướng sử dụng Công ước về Luật Biển nhiều hơn , có thay đổi trong hành vi ngoại giao , cũng như có một số điểm mới trên thực địa. Quá trình thương thuyết về vấn đề Biển Đông cũng bắt đầu có nhiều biến chuyển , các nước bắt đầu thương thuyết trực tiếp về COC. Tư liệu lịch sử về chủ quyền ở cấp cao nhất Các đại biểu ý là Việt Nam có nhiều chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để chứng minh chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam đã chiếm hữu thực sự , hòa bình và thực thi liên tiếp chủ quyền của mình ở đây. Trong tham luận của mình , tấn sĩ sử học Nguyễn Nhã đã nhấn mạnh những chứng cứ lịch sử tự tin tuyên bố chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những chứng cứ ở cấp cao nhất - cấp quốc gia. Các tài liệu chính thức của quốc gia Việt Nam , của các triều đình Việt Nam như: Đại Nam thực lục chinh biên , Đại Nam Hội điển sự lệ , Châu bản triều Nguyễn , Đại Nam nhất thống chí…đã ghi nhận rất rỏ rành rằng , các ông vua của Việt Nam luôn tự tin tuyên bố Hoàng Sa thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam. Theo tấn sĩ Nguyễn Nhã , những tư liệu lịch sử về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở cấp độ quốc gia hiện chỉ độc nhất vô nhị Việt Nam có. Tấn sĩ Nguyễn Nhã ý là , hồ hết các tư liệu lịch sử của Việt Nam đều là tư liệu lịch sử thuộc quốc gia , đặc biệt là Hội điển , loại sách ghi thành điển biến thành luật lệ của triều đình hoặc các châu bản , tức những văn bản thảo luận giữa vua và các đình thần hoặc tỉnh thần , đều trực tiếp chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. "Ngoài những tư liệu lịch sử trong nước , sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn được minh chứng bằng những tư liệu lịch sử của chính Trung Quốc và các nước phương Tây” , tấn sĩ Nguyễn Nhã nói.Về cơ sở của Trung Quốc , các đại biểu ý là luận điểm của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông dựa trên hình thức thụ đắc cương vực chiếm hữu và hình thức thụ đắc cương vực bằng thoả ước quốc tế. Về hình thức thụ đắc cương vực bằng chiếm hữu , một số quan điểm ý là Trung Quốc đã không thỏa mãn request chiếm hữu hòa bình , thực sự và dưới danh nghĩa quốc gia. Các học giả cũng ý là hệ thống giao thông địa danh của Trung Quốc không dựa trên nhân tố lịch sử , việc xếp hàng các địa danh không kèm văn bản chính. Một số công trình nghiên cứu của Trung Quốc khi trích dẫn dựa trên các tư liệu lịch sử cổ , thường trích dẫn một cách ngắt đoạn , còn một số khác đúng nguồn thì lại hiểu sai về nội dung.Bốn kịch bản Về các kịch bản có xác xuất diễn ra ở Biển Đông trong thời kì tới , các học giả ý là có xác xuất có 4 kịch bản xảy ra. Kịch bản thứ nhất là tình hình chuye sẽ đẹp hơn bây giờ nếu như các bên , đặc biệt là Trung Quốc , hành xử đúng theo những gì mình tuyên bố. Đó là “tạo dựng Biển Đông thành một vùng biển hòa bình và hợp tác” như trong điện của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo gửi những người đồng cấp ASEAN vào tháng 10-2010. Kịch bản thứ hai là tình hình sẽ căn bản như bây giờ , quá trình hiệp tác và đấu tranh tiếp kiến và đan xen lẫn nhau. Kịch bản thứ ba là tình hình xấu hơn bây giờ. Tức thị mặt chống đối , tranh chấp nhiều hơn hiệp tác nhưng chưa có chống đối quy mô lớn. Kịch bản thứ tư là xảy ra chống đối lớn.Trao đổi với phóng viên bên lề hội thảo , Phó giáo sư , tấn sĩ Nguyễn Hồng Thao ( Đại học quốc gia Hà Nội ) cho biết , muốn giải quyết vấn đề Biển Đông , phải xây dựng lòng tin giữa các bên. “Mọi tranh chấp cần được giải quyết một cách hòa bình theo Công ước Luật Biển 1982. Việt Nam sẽ cùng các bên kiên trì thực hành DOC và tiến tới phê duyệt COC. Đây sẽ là cơ sở pháp lý chặt hơn , là tiền đề để các bên giải quyết các vấn đề” , ông Thao nói. Đánh giá về vấn đề này , ông Thao ý là từ hội thảo lần thứ nhất diễn ra năm 2009 tới nay đã có nhiều thay đổi. Các bên có thảo luận công hàm , trình diễn.# lập trường của mình về các vấn đề có liên quan. Ông nói: "Điều đáng mừng là các nước ASEAN đã hợp nhất được tiếng nói của mình với Trung Quốc trong giải quyết vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên , để làm đẹp hơn nữa , lòng tin phải đến từ tất cả các bên". Các học giả ý là , một Bộ quy tắc tam suất xử sự ( COC ) tuy chưa phải là công cụ để giải quyết các tranh chấp nhưng sẽ là một công cụ để xây dựng lòng tin nhằm tạo môi trường hòa bình , yên ổn , tin cậy lẫn nhau và xứng đáng được đề nghị hoặc đề xuất hiệp tác sử dụng và quản lý Biển Đông một cách hòa bình. Vì vậy , COC không nên dừng lại ở xác nhận của các bên thực hành các nguyên tắc khung mà cần phải rõ ràng rõ những hành vi không được phép tiến hành. Ngoại giả , COC cũng cần quy định những hoàn cảnh và cơ chế phù hợp cho phép các bên tăng cường đối thoại , giảm thiểu găng. Trước mắt , các bên cần thúc đẩy thực thi đầy đủ DOC ký giữa Trung Quốc và ASEAN năm 2002.Minh bạch báo cáo hơn nữa “Để người dân các bên hiểu rõ sự thực về các vấn đề trên Biển Đông , trước tiên cần phải chống quan điểm nhận thức mơ hồ. Những sự thực đã được chứng minh phải được chắc chắn bằng khung cơ sở pháp lý. Xếp hàng thêm chứng cứ , có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết các tài liệu gốc , dịch sang các thứ tiếng và quảng bá thông đạt các ngả các tài liệu” , ông Nguyễn Trường Giang , Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền , báo cáo và tư liệu lịch sử , Ủy ban biên giới quốc gia nhấn mạnh. Tán đồng với quan điểm trên , Thiếu tướng Lê Văn Cương cũng ý là phải tăng thời lượng các tiêu chuẩn về biển , đảo trên các công cụ truyền thông; xây dựng giáo trình về vấn đề này để giáo dục cho các cấp học; trợ giúp in , phát hành tài liệu nghiên cứu để có xác xuất phổ thông thông đạt các ngả. Ra tay cho quần chúng Việt Nam ở trong và ngoài nước cũng như quần chúng thế giới có sự hiểu biết có như thế nào thì bày tỏ đúng như thế về chủ quyền biển , đảo của Việt Nam trên Biển Đông. Ngoại giả , chính phủ cũng cần có chính sách ăn nhập để đào tạo chuyên gia , nghiên cứu chuyên sâu , có hệ thống; tổ chức hiệp tác chặt với quốc tế , tranh thủ sự giúp đỡ để tiếp cận với khoa học về biển , đảo./. Bài và ảnh: NGUYỄN HÒA – THU TRANG
.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét