Cộng đồng viết bài

Đẳng cấp vệ sinh văn phòng trọn gói - cái nhìn mới cung cấp tạp vụ văn phòng khi bạn cần tìm người giúp việc cho gia đình cùng với việc làm vệ sinh thảmvệ sinh nhà xưởng

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

5 máy bay ném bom vượt hẳn lên-xuất chúng nhất mọi thời đại

Handley Page Type O 400Các cuộc tấn công ném bom chiến lược đầu tiên trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất được thực hành bởi các khí cầu của Đức. Do trong lượng khá nhẹ nên nó có xác xuất bay cao hơn so với các máy bay đánh chặn khi đó và đã giúp Đức tấn công có hiệu quả một số mục tiêu của Anh và vài quốc gia khác. Cùng với sự phát triển về khả năng đánh chặn và hệ thống giao thông phòng không theo thời kì , Đức , Italy và Anh bắt đầu nghiên cứu những loại máy bay ném bom có xác xuất mang tải trọng nhiều hơn và bay xa hơn để đối nghịch với quân Đức. Theo đó , công ti v Handley Page của Anh đã nghiên cứu và chế tạo ra loại máy bay ném bom hai tầng cánh Type O 400. Chuyến bay đầu tiên của loại máy bay này được thực hành vào ngày 17/12/1915 và đưa vào biên chế cho lực lượng không quân Anh 1 năm sau thời gian ấy. Nó nhịp độ dưới mức bình thường nhanh hơn , mang nhiều bom hơn các máy bay ném bom cùng thời lúc đó là Gotha IV và Caproni Ca.3. O 400 có sải cánh gần bằng Avro Lancaster ( 30 , 48m ) nên có xác xuất đạt tốc độ cực đại 157km/giờ với tải trọng cất cánh tối đa lên đến 6 tấn , trần bay 2 , 6km. Được trang bị súng liên thanh Lewis cỡ nòng 7 , 7mm , mang gần 1 tấn bom và thời kì bay 8 giờ , O 400 là một trong những trụ cột của không quân Anh trong giai đoạn gần cuối cuộc chiến. Một chức vụ O 400 đã gây thiệt hại nhiều có hiệu quả những căn cứ không quân cũng như các cơ sở hậu cần của quân Đức. Các cuộc oanh tạc này cũng đặt nền tảng thuyết lí tác chiến không quân sau thời gian ấy , trong đó ( ít ra là Mỹ và Anh ) đã định ảnh ra cách thức gây thiệt hại nhiều các mục đích của đối phương quy mô lớn.Khoảng 600 chiếc O 400 đã được làm ra trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và chiếc cuối cùng được cho “nghỉ hưu” vào năm 1922. Trong thời kì này , các nước như Mỹ , Trung Quốc và Australia cũng trang bị O 400 cho lực lượng không quân của mình với số lượng nhỏ.Junkers Ju 88Junkers Ju -88 được cho là một trong những máy bay linh hoạt nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai do tập đoàn Junkers làm ra và xuất xưởng lần đầu tiên vào giữa năm 1930. Junkers Ju 88 còn được biết đến với cái tên “Máy bay đa năng” , mặc dù nó cốt yếu được sử dụng thực hành nhiệm vụ máy bay ném bom cỡ nhàng nhàng. Được trang bị động cơ đôi-bổ nhào và với hỏa lực mạnh , máy bay này thể hiện rất tốt vai trò của mình trên chiến trường như đánh đêm , đánh bổ nháo , oanh tạc - phóng ngư lôi , do thám và đánh bom hạng nặng. Với phí tổn tự do tương đối rẻ nhưng hiệu quả cao , không quân Đức đã làm ra khoảng 15.000 chiếc - nhiều hơn bất kỳ loại máy bay bổ nháo nào của nước này - và đã tận dụng tối đa ưu thế của Ju 88 trên hồ hết các chiến trường , đặc biệt là trên chiến trường phía Đông và Địa Trung Hải.Đức đã sử dụng máy bay trên tham gia tác chiến lần đầu tiên trong chiến dịch xâm lăng Ba Lan và trong trận đánh này , một phi đội Ju 88 đã xoá sổ 25 xe thiết giáp của Ba Lan. Trong chiến dịch xâm lăng Na Uy năm 1940 , Ju 88 được sử dụng để tấn công vào phong toả tàu thuyền của quân đồng minh. 1 tốp Ju 88 thuộc không đoàn chiến thuật 30 của Đức tham gia chung chiến dịch với máy bay ném bom hạng nặng Heikel He 111 , thuộc không đoàn chiến thuật 26 , tấn công HMS Rodney và đánh chìm tàu HMS Gurkha. Kết thúc chiến dịch , Đức mất 4 chiếc Ju 88 , một con số khá nhỏ. Ngoại giả , Ju 88 cũng thể hiện tốt uy lực và chiếm ưu thế trong các cuộc đụng độ với phía Anh , Pháp cũng như ở chiến trường phía Đông với Liên Xô.De Havilland MosquitoDe Havilland Mosquito là một loại máy bay chiến đấu đa năng của Anh với tổ lái hai người , hiện ra trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Mosquito là một một trong số ít những chiếc máy bay ném bom có vinh hạnh được hoạt động ở tiền phương và do được chế tạo gần như không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả bằng gỗ , nên có biệt danh là "The Wooden Wonder" hay các phi công gọi một cách trìu mến là "Mossie". Ban sơ người ta coi nó là một máy bay ném bom véc tơ vận tốc tức thời cao không vũ trang , Mosquito được sử dụng đa nhiệm vụ trong không chiến , gồm: ném bom bay ngày tầng trung , ném bom bay đêm tầng cao , tìm đường , tiêm kích bay ngày hoặc đêm , tiêm kích-bom , bay thâm nhập , cường kích trên biển , và trinh sát viên không ảnh. Nó còn được Cơ quan Overseas Airways ( BOAC ) của Anh sử dụng làm máy bay vận chuyển. Với trọng lượng tự do tương đối nhẹ do cấu tạo không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả bằng gỗ và trang bị động cơ Merlin tiền tiến , nên nó dễ dàng vượt qua các máy bay ném bom khác như Bf109 của Đức và hồ hết các máy bay chiến đấu khác của quân đồng minh lúc đó về tốc độ cũng như trần cao ( véc tơ vận tốc tức thời tối đa 668km/giờ , trần bay 11 km ).Mặc dù tải trọng bom của De Havilland Mosquito bị ngăn lại trong một giới hạn nhất định ( 1 , 8 tấn bom ) , tốc độ tuyệt trần của nó kết hợp với các trang bị đương đại cho phép nó có xác xuất oanh tạc xác thực các mục đích của đối phương hơn các máy bay ném bom khác. Trong chiến tranh , không quân họ hàng nhà vua Anh sử dụng De Havilland Mosquito cho các cuộc tấn công xác thực các mục đích đáng được coi trọng cao , trong đó có trụ sở của chính phủ , và các cơ sở phóng hoả tiễn V của Đức. Ngoại giả , máy bay này cũng thực hành nhiệm vụ nghi binh , đánh lạc hướng các máy bay chiến đấu của quân Đức.De Havilland được làm ra hơn 7000 chiếc trang bị cho không quân Anh và một số nước đồng minh khác. Nếu , sau Chiến tranh thế giới Thứ 2 , máy bay này vẫn nằm trong biên chế của không quân các nước như Israel , Nam Tư cũ và Cộng hòa Dominica.Avro LancasterLà loại máy bay ném bom chiến lược rất được tin cậy của lực lượng không quân Anh trong Chiến tranh thế giới thứ hai , Lancaster thực hành phần lớn các nhiệm vụ ném bom tấn công kết hợp ( CBO ). Avro Lancaster là một loại máy bay ném bom hạng nặng 4 động cơ do hãng Avro thiết kế chế tạo. Nó được đưa vào trang bị cho Bộ tư lệnh máy bay ném bom của Không quân họ hàng nhà vua Anh ( RAF ) năm 1942 và tham gia các cuộc ném bom chiến lược trên chiến trường Châu Âu. Lancaster trở nên máy bay ném bom hạng nặng chủ lực của RAF , Không quân họ hàng nhà vua Canada ( RCAF ) và lực lượng không quân của một số nước châu Âu khác. Với tải trọng bom lớn hơn nhiều trong khi bay với tốc độ na ná và một khuôn khổ dài hơn một tí so với so với B-17 hoặc B -24 , nó đã làm lu mờ vai trò của các loại máy bay ném bom cùng thời như Handley Page Halifax và Short Stirling. Nó được đặt tên thân tình là "Lanc" , tên này đã trở nên nức danh nhất và là máy bay ném bom ban đêm thành công nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai , nó đã "thả 608.612 tấn bom trong 156.000 phi vụ". Hơn 7000 chiếc Lancasters đã được chế tạo và chiếc cuối cùng bị thải loại vào năm 1960 sau khi Canada sử dụng chúng thực hành nhiệm vụ trinh sát viên và tuần tra biển lần cuối.B-52Boeing B-52 Stratofortress ( Pháo đài chiến lược ) là máy bay ném bom chiến lược phản lực được hôn quân Mỹ ( USAF ) sử dụng từ năm 1955 , thay thế cho các kiểu Convair B-36 và Boeing B-47. Được chế tạo để mang khí giới hạt nhân trong thời kỳ lúa ra đòng Chiến tranh Lạnh , nó chỉ được dùng để thả các khí giới quy ước trong các cuộc chiến tranh thực tiễn. Đây là máy bay ném bom có tầm bay xa không để ý tiếp nhiên liệu dài nhất và mang được đến 27 tấn vũ khí.Những Bản năng bay vượt hẳn lên-xuất chúng ở tốc độ cận âm và phí tổn vận hành tự do tương đối rẻ đã duy trì chiếc B-52 phục vụ người ốm trong thời kì gần 70 năm , cho dù đã có những request để thay thế nó bằng kiểu máy bay siêu thanh Mach 3 XB-70 Valkyrie , siêu thanh B-1B Lancer và kiểu tàng hình B-2 Spirit. Để biểu diễn khả năng vươn tới cả thế giới của chiếc B-52 , từ ngày 16 - 18/1/1957 , ba chiếc B-52B thực hành chuyến bay không nghỉ vòng vèo thế giới trong Chiến dịch Power Flite , trải qua gần 40.000 km trong khoảng 45 giờ với nhiều lần tiếp nhiên liệu trên không bởi máy bay KC-97. Sau thời gian ấy , B-52 lập thêm nhiều kỷ lục như: một chiếc B-52D lập kỷ lục thế giới về tốc độ 560.705 mph ( 902 km/h ) trên một quãng đường bay vòng tròn khép kín dài 10.000 km không mang tải trọng năm 1958.Năm 1962 , một chiếc B-52H lập kỷ lục thế giới khi bay không tiếp thêm nhiên liệu từ căn cứ Không quân Kadena , Okinawa , Nhật Bản , đến căn cứ Không quân Torrejon , Tây Ban Nha , trải qua 20.177 km. Đến năm 1963 , Bộ chỉ huy Không quân Chiến lược Mỹ có lực lượng cao điểm nhất với 650 chiếc B-52 hoạt động trong 42 phi đội và tại 38 căn cứ.Tuy nhiên , B-52 đã chịu thất bại nặng nề và độc nhất vô nhị trên chiến trường trong chiến tranh Việt Nam năm 1972 , hay còn làm gọi là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” mà phía Mỹ làm gọi là Chiến dịch Linebacker II. Trong chiến dịch này , nhằm giữ uy tín của một siêu cường quân sự và để rút quân trong danh dự , Mỹ đã tiến hành chiến dịch đánh bom cuối cùng này với ý định "đưa miền Bắc về thời kỳ lúa ra đòng đồ đá" , giảm bớt sự trợ giúp quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho chiến trường miền Nam. Tuy nhiên , với sự chiên đấu cương cường , mưu trí , sáng tạo và gan dạ của quân và dân miền Bắc , kế hoạch của Mỹ đã bị thất bại thảm hại và chịu tổn thất vô ngần nặng nề với 34 máy bay B-52 bị xoá sổ , đồng thời đánh dấu lần đầu tiên bị bắn rơi bởi máy bay MIG 21 do phi công Phạm Tuân của Không bộ đội dân Việt Nam điều khiển. Vì thế hãng tin AP lúc đó đã bình phẩm một cách đầy lo âu rằng: "Cứ theo tốc độ bị bắn rơi như thế này thì chỉ sau 3 tháng , B-52 sẽ tuyệt chủng".Sau đó , B-52 vẫn được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Lạnh , thực hành các nhiệm vụ tuần tra cảnh giác trên không dưới các tên mã như Head Start , Chrome Dome , Hard Head , Round Robin , và Giant Lance. Những chiếc máy bay ném bom bay quanh quẩn tại các điểm bên ngoài cương vực Liên Xô để sẵn sàng nhanh chóng tung ra đòn tấn công trước hoặc duy trì khả năng trả đủa trong một cuộc chiến tranh hạt nhân. B-52 cũng có vai trò quan yếu trong quá trình chiến dịch bão tố Sa mạc trong chiến tranh Iraq năm 1999 , góp phần vào chiến thắng của lực lượng Mỹ trong Chiến dịch Thực thi không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc tại Afghanistan năm 2001 , nhờ khả năng bay lâu bên trên chiến trường và trợ giúp tấn công mặt đất qua việc sử dụng các khí giới dẫn đường chính xác , một nhiệm vụ dĩ vãng chỉ được giao cho máy bay chiến đấu và máy bay cường kích. B-52 cũng giữ vai trò mấu chốt trong Chiến dịch Iraq không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc năm 2003 , khi nó trợ giúp mặt đất và ném bom. Và gần đây nhất , 2 chiếc B-52 của Mỹ đã cố ý đi vào Vùng nhận dạng phòng không ( ADIZ ) mà Trung Quốc vừa thiết lập trên biển Hoa Đông trong một động thái ngoại giao ám giả tá phản đối với tuyên bố này của Bắc Kinh.Trong thế kỷ qua , nhiều quốc gia đã đầu tư nguồn lực lớn đối với máy bay ném bom , mặc dù sự đầu tư này có lúc mang lại hiệu quả chiến lược nhưng cũng có lúc không. Máy bay ném bom đưa lại hiệu quả tốt nhất không có tức thị chỉ thực hành hiệu quả độc nhất vô nhị một nhiệm vụ mà còn phải gánh vác được các nhiệm vụ khác một cách linh hoạt khi được request. Nếu , một "đối trọng" với B-52 của Mỹ bây giờ là máy bay ném bom chiến lược sử dụng động cơ tuốc bin cánh quạt Tu-95 của Không quân Nga. Một phần lý do dẫn tới quãng thời kì hoạt động cao và giống như B-52 , Tu-95 phù hợp chuyển đổi sử dụng cho nhiều mục đích. Trong khi ban sơ Tu-95 chỉ được dự kiến thiết kế cho các loại khí giới hạt nhân , sau này nó đã được chuyển đổi để thực hành rất nhiều vai trò khác , như khai triển hoả tiễn hành trình , tuần tra biển và thậm chí là cả máy bay chở khách dân sự.CT ( Theo N.I ) .
.
.
.
.
.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét